Thế giới đang bước vào giai đoạn mà vấn đề khí hậu và phát thải carbon không còn là câu chuyện của tương lai, mà đã trở thành ưu tiên cấp bách toàn cầu. Áp lực giảm phát thải, trung hòa CO₂ và đạt mục tiêu “net zero” khiến tín chỉ carbon nổi lên như một “tài sản xanh” có giá trị kinh tế thực - vừa giúp doanh nghiệp và quốc gia hoàn thành nghĩa vụ phát thải, vừa mở ra nguồn thu mới từ thị trường carbon quốc tế.
Việt Nam sở hữu lợi thế tự nhiên đáng kể: diện tích rừng lớn, khí hậu thuận lợi, khả năng tái sinh cao. Đây là nền tảng để phát triển, quản lý rừng bền vững, tạo ra lượng hấp thụ carbon lớn và từ đó hình thành nguồn tín chỉ carbon có thể giao dịch.
Minh chứng rõ nhất là đầu năm 2024, Việt Nam trở thành quốc gia đầu tiên tại khu vực Đông Á - Thái Bình Dương nhận khoản thanh toán 51,5 triệu USD từ Quỹ Đối tác Carbon Lâm nghiệp (FCPF) của Ngân hàng Thế giới. Khoản chi trả cho kết quả giảm 10,3 triệu tấn CO₂ giai đoạn 1/2/2018 - 31/12/2019 cũng là khoản thanh toán đơn lẻ lớn nhất mà FCPF từng thực hiện cho một chương trình giảm phát thải đã được xác minh và đánh giá chất lượng cao.



Khoản thanh toán 51,5 triệu USD mang lại lợi ích cho 70.555 chủ rừng và 1.356 cộng đồng sống gần rừng tại 6 tỉnh, được phân chia theo kế hoạch minh bạch, bảo đảm công bằng và sự tham gia của nhiều bên liên quan.
Đây là tín hiệu tích cực cho nỗ lực bảo vệ và phát triển rừng, tăng độ che phủ. Điều này đã cho thấy cách mà “tài sản vô hình” tín chỉ carbon có thể trở thành nguồn thu bền vững cho cả cộng đồng và quốc gia.
Với hơn 100 doanh nghiệp đã được cấp chứng chỉ carbon và 14,7 triệu ha rừng, khí hậu nhiệt đới và tốc độ sinh trưởng cây trồng nhanh, Việt Nam hiện nằm trong nhóm 5 quốc gia tạo tín chỉ nhiều nhất thế giới. Hay nói cách khác, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: từ quốc gia sở hữu tiềm năng có thể vươn lên trở thành nhà cung ứng tín chỉ carbon hàng đầu trong khu vực.
Có thể khẳng định, nếu được khai thác một cách bài bản, Việt Nam hoàn toàn có khả năng trở thành nhà cung cấp tín chỉ carbon uy tín trong khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, để hiện thực hóa tiềm năng này không hề đơn giản.
Các yêu cầu quốc tế về minh bạch dữ liệu; hệ thống đo lường - báo cáo - thẩm tra (MRV: Monitoring - Reporting - Verification); chuẩn mực chứng nhận; hay năng lực duy trì rừng lâu dài… đều đòi hỏi nguồn lực lớn về tài chính, quản trị, kỹ thuật và nhân sự.
Chính những yêu cầu này tạo ra một “điểm nghẽn”: doanh nghiệp muốn làm rừng, trồng rừng, quản lý rừng, sản xuất gỗ sinh khối, tham gia xuất khẩu và khai thác tín chỉ carbon, nhưng lại thiếu vốn dài hạn, thiếu khung tài chính phù hợp, thiếu hỗ trợ chuyên môn để đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Nếu không có dòng vốn mạnh, ổn định và được thiết kế đúng mục tiêu, tiềm năng tín chỉ carbon rất dễ chỉ dừng ở mức kỳ vọng.
Vì vậy, tài chính - đặc biệt là hệ thống ngân hàng - trở thành mắt xích chiến lược. Từ nền tảng tín dụng nông - lâm nghiệp truyền thống, ngân hàng có thể tạo ra bước chuyển quan trọng, giúp đưa tín chỉ carbon từ tiềm năng trở thành giá trị kinh tế thực. Trong bức tranh ấy, vai trò của một ngân hàng lớn, có mạng lưới rộng và am hiểu sâu nông nghiệp - nông thôn như Agribank trở nên đặc biệt quan trọng. Đây chính là lực đẩy giúp nối liền dòng vốn, hỗ trợ kỹ thuật và tạo nền tảng để doanh nghiệp Việt bước chân vào thị trường tín chỉ carbon quốc tế.
Agribank, với sứ mệnh hỗ trợ nông nghiệp, nông thôn, lâm nghiệp và nông dân - đồng thời là ngân hàng thương mại nhà nước hàng đầu - đang nổi lên như một định chế tài chính đi đầu trong việc hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện các dự án liên quan gỗ sinh khối, trồng rừng, chế biến lâm sản, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững và tạo tín chỉ carbon.
Một trong những minh chứng rõ rệt là Agribank đã cấp tín dụng cho các doanh nghiệp chế biến gỗ sinh khối, đồng thời hỗ trợ để họ tiếp cận tiêu chuẩn quốc tế và mở rộng thị trường xuất khẩu - từ đó chuẩn bị cho khả năng phát sinh tín chỉ carbon.
Nằm trong Khu kinh tế Nghi Sơn, Công ty TNHH Văn Lang Yufukuya chuyên sản xuất dăm gỗ và viên nén gỗ, hai mặt hàng có nhu cầu lớn tại Nhật Bản, Hàn Quốc và châu Âu phục vụ sản xuất năng lượng sinh khối. Từ năm 2020, Agribank đã đồng hành cùng doanh nghiệp này với hạn mức tín dụng 200 tỷ đồng, đến nay đã giải ngân 161 tỷ đồng. Việc giải ngân kịp thời giúp Văn Lang duy trì chuỗi cung ứng nguyên liệu, bảo đảm tiến độ xuất khẩu, đồng thời có thêm nguồn lực để mở rộng thị trường và nâng cấp dây chuyền chế biến gỗ sinh khối.
Đáng chú ý, Văn Lang chỉ thu mua nguyên liệu từ các đơn vị có chứng chỉ FSC (Forest Stewardship Council) và thực hiện thanh toán trực tiếp cho từng lô hàng nhập. Điều này không chỉ đáp ứng yêu cầu minh bạch và bền vững của thị trường mà còn khẳng định định hướng phát triển lâu dài gắn với tiêu chuẩn quốc tế.
Khác với Văn Lang, Công ty TNHH Lâm Thanh Hưng đặt trụ sở tại xã Tượng Lĩnh tập trung sản xuất dăm gỗ và ván ghép thanh. Doanh nghiệp được Agribank cấp hạn mức tín dụng 80 tỷ đồng và đã giải ngân toàn bộ. Khoản vốn này đã giúp công ty mở rộng sản xuất, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế.





Điểm đặc biệt là Lâm Thanh Hưng quản lý 700 ha rừng tại 4 xã Công Liêm, Công Chính, Tượng Sơn, Tượng Lĩnh (huyện Nông Cống, Thanh Hóa). Đây là diện tích thuê từ 258 hộ dân, và công ty đã thực hiện thanh toán đầy đủ tiền thuê rừng, đồng thời tiếp tục trả trực tiếp cho hộ dân mỗi khi nhập nguyên liệu. Mô hình này không chỉ bảo đảm nguồn cung ổn định mà còn tạo thu nhập cho cộng đồng địa phương, xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng, một yếu tố quan trọng để phát triển bền vững.
Nhìn qua, các khoản vay này có thể được xem như tín dụng phục vụ sản xuất gỗ thông thường. Nhưng thực chất, đó chính là … “mắt xích” trong chuỗi giá trị carbon: từ trồng rừng - quản lý rừng bền vững - khai thác gỗ sinh khối - xuất khẩu - giảm phát thải - tạo ra tín chỉ carbon có thể được đo lường, xác minh, chứng nhận (MRV + FSC + tiêu chuẩn quốc tế) - và sau đó giao dịch trên thị trường carbon quốc tế.
Nhờ có vốn và hỗ trợ từ Agribank, doanh nghiệp Việt như Văn Lang, Lâm Thanh Hưng có thể đảm bảo chuẩn mực quốc tế - từ quản lý rừng, minh bạch nguyên liệu, tới chuỗi chế biến, xuất khẩu - điều kiện tiên quyết để các loại tín chỉ carbon có giá trị thật trên thị trường toàn cầu.
Ngân hàng ở đây đóng vai trò không chỉ là người cho vay, mà là bệ đỡ tài chính, đối tác đồng hành chiến lược, giúp doanh nghiệp: có vốn để đầu tư hạ tầng, dây chuyền chế biến, quản lý rừng, đầu tư công nghệ sạch; có khả năng tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế (FSC, MRV, chứng nhận carbon…). Đồng thời, tiếp cận đối tác nước ngoài, xuất khẩu - từ đó khẳng định uy tín; chuẩn bị cho việc phát hành, giao dịch tín chỉ carbon tạo nguồn thu bền vững mới.
Ông Lang Văn In, Chủ tịch Hội đồng thành viên công ty TNHH Văn Lang Yufukuya chia sẻ: “Khoản vay từ Agribank là chìa khóa giúp chúng tôi đầu tư vào dây chuyền chế biến gỗ sinh khối và phát triển dự án trồng rừng. Dù thuận lợi về chính sách khi có Nghị định 06/2022/NĐ-CP và Quyết định 888/QĐ-TTg hỗ trợ, chúng tôi vẫn gặp không ít thách thức: chi phí giám sát MRV cao, thủ tục chứng nhận quốc tế phức tạp, cùng áp lực minh bạch dữ liệu. Nếu không có sự đồng hành từ Agribank, chúng tôi khó có thể đi xa đến vậy”.
Trước áp lực của biến đổi khí hậu và yêu cầu chuyển đổi xanh, Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) triển khai với mục tiêu vừa bảo đảm an ninh lương thực, vừa hướng đến xuất khẩu gạo bền vững, có khả năng tham gia thị trường tín chỉ carbon.
Trong chuỗi liên kết này, Agribank được chọn là ngân hàng chủ lực, đảm nhận vai trò cung cấp dòng vốn xanh ưu đãi cho các doanh nghiệp, Hợp tác xã và nông dân.Theo đó, hàng loạt mô hình canh tác mới được khởi động, trong đó mô hình của ông Nguyễn Cao Khải, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp và Dịch vụ Tiến Thuận là điểm sáng tiêu biểu. Trước năm 2023, hoạt động sản xuất của Hợp tác xã Tiến Thuận vẫn mang nặng tính truyền thống: đầu tư tốn kém, năng suất bấp bênh, nông dân chịu nhiều rủi ro về giá cả.
Chuyển đổi sang mô hình phát thải thấp đòi hỏi đầu tư đồng bộ, từ máy cuốn rơm, máy gieo sạ hàng, cảm biến đo mực nước đến thiết bị ủ phân hữu cơ. Tổng mức đầu tư ban đầu có thể lên đến hàng tỷ đồng cho mỗi Hợp tác xã, một con số không nhỏ với nông dân.
Nhờ Agribank Chi nhánh Vĩnh Thạnh, Hợp tác xã Tiến Thuận đã tiếp cận được chương trình vay vốn ưu đãi trong khuôn khổ Đề án 1 triệu ha. Theo thông tin công bố, Hợp tác xã có hơn 10 thành viên vay tổng cộng hơn 6 tỷ đồng, với lãi suất thấp hơn thị trường 1%/năm. Đây là mức ưu đãi đặc biệt mà Agribank thiết kế riêng cho những mô hình liên kết sản xuất, tiêu thụ lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp tại vùng ĐBSCL.Ông Nguyễn Cao Khải nhớ lại: “Agribank không chỉ cho vay vốn mà còn đồng hành cùng chúng tôi khi triển khai cách làm mới hướng dẫn cách làm mới.
Cán bộ ngân hàng cùng xuống tận ruộng, cùng lựa chọn mô hình giảm phát thải phù hợp. Nguồn vốn này giống như phân bón gốc nuôi dưỡng cả cây lúa và niềm tin của người nông dân”.Sự chuyển đổi tại Hợp tác xã Tiến Thuận không chỉ dựa vào vốn và kỹ thuật, mà còn nhờ mô hình liên kết chuỗi 5 nhà: Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, nhà nông và ngân hàng.
Chính quyền địa phương quy hoạch vùng chuyên canh, hỗ trợ chính sách và giám sát tiêu chuẩn; các viện, trường đại học hướng dẫn kỹ thuật giảm phát thải, chuyển giao mô hình; doanh nghiệp chế biến tham gia bao tiêu sản phẩm; Hợp tác xã tổ chức nông dân sản xuất theo quy trình chung và Agribank đảm nhiệm vai trò “bà đỡ tài chính”, cung cấp vốn và tư vấn phương án đầu tư.
Đáng chú ý, Hợp tác xã Tiến Thuận đang tham gia mô hình thí điểm sản xuất lúa chất lượng cao - phát thải thấp (định hướng bán tín chỉ carbon). Cụ thể, nằm trong diện đơn vị được triển khai đo đạc, giám sát với mục tiêu áp dụng quy trình MRV và hướng tới khả năng bán tín chỉ carbon.
Dù còn trong giai đoạn thử nghiệm, mô hình của Hợp tác xã đã chứng minh tiềm năng thực tế khi vừa nâng cao hiệu quả sản xuất, vừa mở ra cơ hội thu nhập mới cho nông dân từ “giá trị của không khí sạch”.Được biết, trong 5 năm gần đây, Agribank đã hỗ trợ vốn cho hơn 350 mô hình và dự án chuyển đổi nhằm giảm phát thải khí nhà kính. Đặc biệt, tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long vốn tín dụng ưu đãi từ Agribank giúp nông dân chuyển đổi sang canh tác lúa phát thải thấp, áp dụng kỹ thuật tưới ướt, khô xen kẽ (AWD) và quản lý rơm rạ thông minh.



Những mô hình này giảm phát thải khí mê-tan ước tính 10,97 triệu tấn CO₂/năm nếu nhân rộng trên 1,9 triệu ha, đồng thời tăng lợi nhuận ròng trung bình 1.211 USD/ha/năm. Có thể khẳng định, các nỗ lực đều hướng đến mục tiêu cuối cùng là để tín chỉ carbon không chỉ là ý tưởng mà biến thành hiện thực, thành lợi ích kinh tế, môi trường, xã hội.
Để không chỉ Văn Lang Yufukuya, Lâm Thanh Hưng hay Hợp tác xã Tiến Thuận mà các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội mở rộng không chỉ thị trường xuất khẩu hàng hóa mà còn bước vào “sân chơi” quốc tế của tín chỉ carbon. Thị trường mà theo nhiều báo cáo ước tính quy mô vào năm 2025 dao động lớn từ khoảng 133 tỷ USD theo Future Market Insights cho tới con số gần 933 tỷ USD theo Precedence Research (biên độ dao động do phạm vi và phương pháp tính).